//
you're reading...
Các vấn đề khác

Luật pháp phải bảo vệ dân nghèo: phỏng vấn TS Phạm Duy Nghĩa (Dương Phi Anh thực hiện)

(Nội dung bài phỏng vấn này đã đăng trên Báo Pháp luật TP.HCM mấy năm trước, nhưng, một số vấn đề được biên tập, chưa đưa vào do quan điểm của Báo và khuôn khổ trang báo không cho phép. Theo tôi, có nhiều ý tưởng của PGS-TS Phạm Duy Nghĩa rất đáng tham khảo trong đợt góp ý sửa đổi Hiến pháp này. Là người trực tiếp phỏng vấn, tôi xin phép giới thiệu bản gốc bài viết đầy đủ hơn).

Thích nói chuyện luật vì “pháp luật không chỉ là công cụ, mà còn là văn hóa”, PGS-TS Phạm Duy Nghĩa có nhiều năm nghiên cứu, trăn trở trong xây dựng luật và xã hội. Ông luôn mong muốn “Việt Nam dám so mình với thế giới bên ngòai… ”.

 (St) Quan tâm tới dân nghèo

– Thưa ông, được biết, trên một tờ báo, ông nói rằng “Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam (Hiến pháp 1946 – NV) còn nguyên giá trị bởi mỗi chữ còn vang vọng tiếng dân!…”. Một vài tờ báo nước ngòai “tụng ca” ông nhưng hình như méo mó, sai ý của ông?

+ Xin ông không quá quan tâm tới những bình luận đầy tư ý của người khác. Qua nghiên cứu, tôi nghĩ chúng ta vẫn còn phải học nhiều về bản Hiến pháp dân chủ nhất Đông Nam Á thời bấy giờ này. Dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bản Hiến pháp 1946 đúng nghĩa là Hiến pháp. Nó bảo vệ dân quyền cao độ; đúc kết được tinh hoa nhân lọai; súc tích, minh bạch; có khả năng phổ quát và bền vững với thời gian; Nó xây dựng được một nguyên lý giữ gìn xã hội với các chủ thể cùng chung sống một cách khoan dung và hòa bình; trong đó, nhà nước cũng là chủ thể phải tuân thủ pháp luật như bất cứ người dân nào… Cũng may là sau nhiều lần sửa đổi, xa rời tinh thần Hiến pháp ban đầu thì Hiến pháp hiện hành (1992) có nhiều điểm quay trở lại, như: Xây dựng xã hội pháp quyền; người dân được công nhận quyền sở hữu tài sản; quyền tự do kinh doanh; quyền khiếu nại, tố cáo; người nghèo đã có phần được quan tâm bảo vệ…

– Tại sao ông luôn cho rằng luật pháp trước hết phải quan tâm tới quyền lợi của dân nghèo, đúng ra phải quan tâm tới tất cả mọi đối tượng trong xã hội chứ, thưa ông?

+ Một cảm nhận chua chát, song có thể cần lưu tâm đó là pháp luật thường chịu ảnh hưởng đáng kể của người có tiềm năng tài chính. Người giàu thường có điều kiện vận động luật pháp có lợi cho họ. Vậy ai sẽ lưu tâm đến lợi ích của các nhóm cử tri nghèo, không hề có năng lực vận động chính sách? Vì vậy, Đại biểu dân cử chắc phải quan tâm bảo vệ quyền lợi của dân nghèo trước hết. Điều này hết sức quan trọng nếu muốn xây dựng xã hội ổn định, vũng chắc…

– Theo ông thì cái gì ảnh hưởng tới quyền lợi người dân nhiều nhất?

+ Luật pháp không minh bạch! Nguyên nhân từ việc lập pháp hoặc việc thực thi pháp luật. Chẳng hạn, vì sức ép hội nhập mà Quốc hội làm luật chạy theo số lượng nên chất lượng thường không cao. Nên không khéo thì dân khinh nhờn luật, quan cũng khinh thường luật; khi ấy việc giáo dục lại cho dân chúng trọng luật sẽ tốn kém và khó hơn nhiều. Luật pháp dở là món nợ của người nghị sỹ với nhân dân và con cháu mai sau. Nhưng nhiều khi luật tốt lại bị méo mó bởi các quy chế hành chính, công văn hướng dẫn hành chính và thậm chí là cả chỉ thị miệng. Điều này ảnh hưởng nhiều đến quyền lợi của người dân bởi “rừng luật” không biết đường nào mà lần…

– Nhưng nguyên nhân chính vẫn là quan niệm về quyền sở hữu tài sản tư mà nhiều lần ông đã cảnh báo?

+ Đúng! Hãy xem những chính sách úp úp, mở mở về quyền cho bán hay không cho bán nhà, đất dự án; hay quyền ấn định bảng giá đất mới… là thấy ngay! Chỉ có quan viên nhà nước mới có quyền biến đất nông nghiệp thành đất công nghiệp hay đất ở… Những quyền “biến cục đất thành cục vàng” ấy là gì nếu không phải là quyền định đoạt? Thực tế, sở hữu nhà nước không thể đồng nhất với sở hữu toàn dân. Nên nếu cho tư nhân có quyền sở hữu nhà đất thì việc nhà nước cấp sổ đỏ, sổ hồng cho dân sẽ không phải là sự ban phát các quyền tài sản cho họ. Tất cả giấy màu đỏ, hồng, xanh không thể xác lập ra quyền tài sản, cũng như giấy khai sinh không đẻ ra con người…

(St) Theo Nho giáo để tự biết xấu hổ…

– Có thời gian người ta bất ngờ về một người Tây học như ông lại có tác phẩm nghiên cứu sâu sắc về Nho giáo. Tại sao ông cho rằng Nho giáo có thể sẽ là một trong số các chủ thuyết cho pháp luật Việt Nam đương đại?

+ Nho giáo là một cách sống, một triết lý sống mà theo nó thì con người cảm thấy thoải mái, thái bình: từ chuyện nhỏ trong gia đình, trong dòng họ, chuyện ngòai làng cho tới quốc gia đại sự. Thứ triết lý này đã là nền tảng cho xã hội Việt Nam từ hàng nghìn năm nay; đã đi sâu vào tâm thức người dân, sâu thẳm và tự nhiên đến nỗi “không có dấu vết nào của văn hóa Việt Nam… mà không có tính chất Nho giáo”. Con người suy nghĩ như thế nào thì hành xử như vậy. Muốn hiểu luật pháp và cách thức tổ chức xã hội Việt Nam, phải hiểu lịch sử hình thành tư tưởng Việt Nam mà Nho giáo là một trong những nền tảng đó…

– Nhưng điều đó sẽ có lợi gì, thưa ông?

+ Sự điều chỉnh của pháp luật và phương pháp của Nho giáo tác động đến hành xử của con người Việt Nam. Xây dựng pháp luật mà dựa trên sự tương tác đó thì pháp luật nước ta sẽ ngày càng gần với cuộc đời hơn. Điều này người Nhật, người Hàn, Hoa kiều, (và bây giờ là người Hoa trong đại lục) đã và đang làm. Họ làm giàu mà không phá vỡ triết lý sống cổ truyền này. Bởi vậy, học lại triết lý truyền thống để giải thích nhà nước và pháp luật chính là học cách suy nghĩ cổ truyền của ông cha để cắt nghĩa những hiện tượng thời nay. Nếu không, mọi tư tưởng vay mượn từ bên ngòai rồi sẽ bị lãng quên như cơn mưa bụi trong lịch sử nghìn năm văn hiến.

– Theo ông Vũ Kỳ, thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì Hồ Chủ Tịch  từng nói: “Chúng ta không gạt bỏ tất cả học thuyết của Khổng Tử mà phải chọn lọc, tiếp thụ những cái tốt đẹp nhất, để làm giàu cho mình, cho con cháu mình mai sau…”. Theo ông thì điều gì cần chọn lọc, tiếp thu ở Nho giáo?

+ Nhiều lắm! Cụ thể là tư tưởng “lấy dân làm gốc” như “Dân vi quý, xã tắc thứ chi…” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dịch là: “Lợi ích của dân trước hết, thứ đến lợi ích quốc gia…”; hay “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng…”. Triết lý sống của Nho giáo về cơ bản dựa trên ngũ thường: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; mà căn bản đầu tiên là chữ nhân. Nho giáo là một nền tảng cho sự tự tu tỉnh, tự tiết độ, giữ gìn liêm sỉ và tư duy trị nước truyền thống. Nho giáo xem đạo đức là nền tảng cho chính trị…

– Nhưng phải làm sao khi quản lý xã hội bằng pháp luật là áp đặt, khác hòan tòan với phương pháp tự nguyện như Nho giáo, thưa ông?

+ Nho giáo “dứt được điều ác từ lúc chưa nảy mầm để cho dân ngày ngày gần điều thiện, xa tội lỗi…” một cách tự nguyện. Đây chính là một điểm then chốt làm cho pháp luật trên giấy trở lại ngày càng gần hơn với những suy nghĩ và nguyện ước của người dân. Chỉ có như vậy luật pháp mới sống lâu bền trong tâm thức nhân dân. Theo tôi, con người học và làm theo Nho giáo là để kiềm chế dục vọng, để biết xấu hổ, biết liêm sĩ trong hành xử của mình. Trong kinh doanh thì giữ chữ tín… Không phải ngẫu nhiên mà cha ông ta cho xây Văn miếu Quốc tử giám. Tôi được một người cắt nghĩa rằng “Văn miếu” nghĩa là “Văn Tuyên Vương Miếu”, là miếu thờ ông Vương có công khai thông văn hóa, đúc kết để mọi người…làm người!

– Vậy theo ông những gì cơ bản nên gạt bỏ ở Nho giáo?

+ Nho giáo từ đời Hán bị xuyên tạc để củng cố quyền lực của người cai trị. Chữ “trung, hiếu, tam tòng, tứ đức” đôi khi đến mức quái gở. Ví dụ địa vị của phụ nữ: ở nhà thì vâng lời cha mẹ, cha mẹ đặt đâu thì ngồi đó, không được tự nguyện yêu đương và kết hôn, lấy chồng thì vâng lời chồng, chồng chết thì theo con… Nho giáo vì thế mà dần trở thành bảo thủ, tự mãn, chống lại đổi mới về kinh tế và chính trị. Bên cạnh những “khuôn vàng, thước ngọc” giữ cho xã hội bình yên, Nho giáo cũng tạo ra gông cùm và xiềng xích làm cho xã hội trở nên lạc hậu so với bên ngòai. Điều trọng yếu là cần nhận diện rõ những phản động lực đó và hạn chế tác hại của chúng thì Nho giáo mới có ích cho đời sống ngày nay.

(St) Phải biết hy sinh lợi ích cục bộ!

– Ông có nghĩ rằng nhiều khi chính chúng ta “ngáng chân nhau” trong phát triển?

+ Đúng! Về văn hóa thì hình như lâu nay chúng ta nhiều khi “lưu vong trên chính mảnh đất văn hóa của mình”. Bạn có biết có hàng vạn cuốn sách viết về Việt Nam, bằng cả tiếng Việt, tiếng Hán và tiếng Anh ở tầng hầm thư viện Đại học Harvard hay không? Thật xấu hổ khi những cuốn sách hay nhất về văn hóa, lịch sử, pháp luật của Việt Nam lại do người nước ngoài soạn. Các trường đại học nước ta yếu, trở thành “ngoại hạng” vì chưa bao giờ dám so mình với thế giới. Chúng ta không chỉ thiếu tiền mà thiếu cả dũng khí dám nhìn thẳng vào sự thật. Ngơ ngác trước thời thế mới, nên không hiếm khi người ta đóng cửa trong những quán tính cũ, mà làm cho nền giáo dục và pháp luật ngày càng dị biệt với bên ngòai. Nhiều khi chúng ta tự hào một cách mù quáng về mình chứ thực tế người Việt xuất hiện trên văn đàn quốc tế rất ít…

– Theo ông tại sao luật của chúng ta vẫn nhiều rối rắm, sơ hở…?

+ Vì nhiều vấn đề chưa được quan tâm giải quyết tới cái gốc của nó. Ví dụ tham nhũng bắt nguồn từ gốc quyền lực nên chống tham nhũng thì phải giám sát được quyền lực trước. Cấp giấy hồng, đỏ, xanh không tạo nên sở hữu mà quan trọng là phải công nhận sở hữu tư nhân về nhà đất…

– Xin cám ơn ông!

Discussion

Comments are closed.

%d bloggers like this: