//
you're reading...
Các vấn đề khác

Cần khẳng định tư cách pháp nhân của tôn giáo và các tổ chức tôn giáo trong Hiến pháp – Phạm Huy Thông

TS. Phạm Huy Thông (*)

Nước ta đã ban hành nhiều bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và nay đang lấy ý kiến sửa đổi bản Hiến pháp năm 1992 cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước cũng như bối cảnh quốc tế. Đó là một chủ trương đúng.

So với bản Hiến pháp 1992 có 12 chương, 147 điều thì bản dự thảo sửa đổi (DTSĐ) rút gọn còn 11 chương 124 điều trong đó giữ nguyên 13 điều, sửa đổi 99 điều và bổ sung 11 điều mới. Chúng tôi rất tán đồng với những quan điểm mới của DTSĐ như thêm điều 120 về Hội đồng Hiến pháp, điều 121 về Hội đồng bầu cử quốc gia, điều 122 về Kiểm toán Nhà nước, điều 22 ( khoản 3) về quyền hiến tạng, hiến xác và điều 54 không còn quy định thành phần kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo như điều 19 của Hiến pháp 1992 vì thực tế ở Việt Nam thời gian qua đã chứng minh. Mặc dù được ưu đãi về vốn vay từ ngân hàng (45%), từ 70% số tiền viện trợ ODA nhưng 1300 doanh nghiệp Nhà nước chỉ đóng góp 30% vào tăng trưởng kinh tế. Nhiều tập đoàn thua lỗ nặng như Vinashin 4,4 tỉ đô la, Vinalines hơn 1 tỷ đô la và số tiền nợ của các tập đoàn lên tới 61 tỷ đô la, chiếm hơn nửa số nợ công của Việt Nam .

DTSĐ cũng sửa đổi điều 93 tăng cường quyền hạn cho Chủ tịch nước tương xứng với vai trò nguyên thủ quốc gia. Chẳng hạn có quyền “phong hàm cấp tướng trong các lực lượng vũ trang nhân dân, Đô đốc, Phó Đô đốc hải quân; bổ nhiệm Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam”.Điều này là hợp lý vì Chủ tịch nước được Hiến pháp quy định là “ Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh” ( điều 103 ) mà chỉ được phong các sĩ quan cao cấp thì làm sao có thể giữ vai trò thống lĩnh được.

Có người đã tỉ mỉ thống kê so với các bản Hiến pháp trước thì DTSĐ là dài nhất với 13.866 từ. Hiến pháp 1946 ngắn nhất chỉ có 3348 từ nhưng tần suất các khái niệm “ dân chủ” ở Hiến pháp 1946 là nhiều nhất ( 13 lần, tần suất 1,49%), khái niệm “ tự do” ở Hiến pháp 1980 là cao nhất ( 15 lần) và khái niệm “ độc lập” ở DTSĐ được nhắc lại tới 14 lần…(1). Thật ra, ý nghĩa của Hiến pháp không phải dài hay ngắn hoặc khái niệm nào được lặp lại nhiều lần thì quan trọng hơn mà chính là từ nội dung các điều khoản được ghi trong Hiến pháp.

Sau đây xin trao đổi đóng góp một số vấn đề được nêu trong DTSĐ.

Trước hết, phần “ Lời nói đầu” vừa dài, vừa thiếu. Dài vì không cần liệt kê các bản Hiến pháp trước đây. Thiếu vì lý do quan trọng nhất là nước ta bước vào tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu , rộng nên phải sửa đổi Hiến pháp lại không được nêu ra.

Về điều 2 ghi: “ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Ghi như vậy là không ổn. Trước hết, về vấn đề lý luận giai cấp hiện đang tranh luận rất phức tạp và cũng có sự chuyển hóa trên thực tế. Bây giờ những doanh nhân xếp họ vào thành phần giai cấp nào ? Trong khi đó, đây mới là lực lượng quan trọng làm ra nhiều sản phẩm cho xã hội, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Bởi vậy, chỉ cần ghi “ Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” là đủ.

Về điều 9, khoản 2 ghi vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là “ giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức”. Cần tách bạch hai nhiệm vụ này. Giám sát là giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức. Còn phản biện là phản biện lại những chủ trương chính sách của Đảng cũng như  pháp luật của nhà nước. Khoản 3 ( điều 9) ghi:  “Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động”. Do tầm quan trọng của MTTQVN trong hệ thống chính trị của nước ta nên phải ghi “ Nhà nước đảm bảo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động và tạo điều kiện cho các tổ chức thành viên của Mặt trận hoạt động”.

Về điều 17, khoản 2 đề nghị ghi thêm từ “tôn giáo” thành: “ Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, tôn giáo, xã hội”.

Về điều 28 ghi: “ Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp”. 18 tuổi được quyền bầu cử là đúng nhưng 21 tuổi có quyền ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân là không thực tế. Bởi một người trưởng thành, có kinh nghiệm hoạt động xã hội, gây dựng được uy tín ít ra cũng phải tốt nghiệp đại học, ra trường mấy năm như vậy phải 25 tuổi ứng cử mới có hy vọng trúng cử nên đề nghị tuổi ứng cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân phải từ 25 tuổi trở lên.

Khoản 3 điều 64 ghi “ Xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc”, đề nghị thêm “ và bền vững” vì nếu gia đình không bền vững thì xã hội cũng bất ổn.

Điều 25 sửa từ điều 70 Hiến pháp 1992 thành 3 khoản:

1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nơi thờ tự của tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Hiến pháp 1946, 1959, 1980 chỉ ghi quyền tự do tín ngưỡng, Hiến pháp 1992 mới bổ sung thêm: quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là một bước tiến bộ trong việc định hình khái niệm trong Hiến pháp vì tín ngưỡng khác tôn giáo. Song trên thực tế khi một người tin tưởng điều gì đó ( như thần cây đa, ma cây gạo…) tức có tín ngưỡng hay theo một tôn giáo chưa nảy sinh vấn đề gì cho xã hội bởi nó mới dừng ở mức độ cá nhân. Vấn đề chỉ nảy sinh khi người đó hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo có nghĩa là thực hành nghi lễ, tuân giữ giáo lý, giáo luật hay truyền bá tín ngưỡng, tôn giáo thì mới đụng chạm đến người khác, đến xã hội và lúc đó mới cần đến chế tài của pháp luật. Cho nên xin đề nghị ghi: “Mọi người có quyền tự do hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo”. Quyền tự do hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cũng lớn hơn quyền công dân. Cho nên, DTSĐ lần này thêm từ “ mọi người” thay cho từ “ công dân” của Hiến pháp 1992. Đây là một sự tiến bộ vì trẻ em dưới 18 tuổi cũng có quyền này và ngay cả những người bị tước quyền công dân vẫn có thể được thực hiện hay đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo, tất nhiên ở mức hạn chế như họ có thể có quyền đọc Kinh thánh, niệm Phật, xưng tội hàng năm một lần hay được chịu Bí tích xức dầu trước khi chết…Đây không chỉ là ứng xử nhân văn mà còn giúp can phạm bình tâm cải tạo tốt và các tử tù bình tĩnh đón nhận sự trừng phạt của luật pháp.

Có một vấn đề lâu nay đã khá nhiều nhà nghiên cứu tôn giáo đề cập đến là tư cách pháp nhân của tôn giáo và các tổ chức tôn giáo chưa được pháp luật thừa nhận gây nhiều phiến toái và phức tạp trên thực tế. Ví dụ, do các tôn giáo và tổ chức tôn giáo không có tư cách pháp nhân nên họ không được đứng tên chủ quyền sử dụng đất đai, tài sản. Chẳng hạn sổ đỏ của một giáo xứ Công giáo do linh mục quản xứ đứng tên nhưng vị linh mục đó  bị chuyển đổi thế là phức tạp giấy tờ nếu muốn xin phép cải tạo, xây dựng khu đất đó. Vấn đề tài sản cũng vậy. Đã có một vị sư nữ ở Thành phố Hồ Chí Minh khi qua đời để lại hơn 400.000 đô la. Kiện tụng xảy ra vì người thân của vị sư nói đó là của riêng và người thân có quyền thừa kế còn giáo hội lại coi đó là tài sản của giáo hội vì đã đi tu hành thì không có quyền có tài sản riêng nữa. Hiến pháp cũng quy định mọi người có quyền bình đẳng trước pháp luật không ai bị phân biệt đối xử vì kinh tế, văn hóa, dân tộc, tôn giáo. Nhưng do chưa có tư cách pháp nhân nên người có tôn giáo lại bị “ phân biệt”. Chẳng hạn vấn đề tham gia vào lĩnh vực xã hội hóa y tế, giáo dục hiện nay. Nếu với tư cách công dân người tu sĩ hay chức sắc tôn giáo có quyền mở trường học các cấp, lập bệnh viện nhưng với tư cách chức sắc tôn giáo thì họ chỉ được mở trường mẫu giáo hoặc cấp 1 và phòng khám từ thiện thôi. Cho nên  một số nơi, thực tế tôn giáo phải thuê, mượn người khác đứng tên xin phép mở trường, lập bệnh viện.

Khoản 2 ghi chỉ có nơi thờ tự mới được bảo hộ thì chưa đủ. Vì tôn giáo có rất nhiều cơ sở như chủng viện, dòng tu, nhà xứ, nơi tu hành, nơi ở các chức sắc, trụ sở của các tổ chức tôn giáo, nếu hợp pháp cũng phải được bảo hộ.

Khoản 3 chỉ ghi “ Không ai” tức là cấm cá nhân. Nhưng trên thực tế có cả tổ chức cũng vi phạm. Vậy phải ghi: Không tổ chức, cá nhân nào…Vậy xin sửa điều 25 như sau:

“1. Mọi người có quyền tự do hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo và tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân và bình đẳng tước pháp luật.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Cơ sở tôn giáo, nơi thờ tự hợp pháp của tôn giáo và các tổ chức tôn giáo được nhà nước bảo hộ.

3. Không một tổ chức, cá nhân nào được xâm phạm tự do hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tự do hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Trên đây là một số ý kiến đóng góp vào DTSĐ, hy vọng DTSĐ sẽ là một khế ước được toàn thể nhân dân ta tham gia góp ý và trở thành sản phẩm trí tuệ của cả dân tộc khi Việt Nam khi bước vào thời kỳ hội nhập sâu rộng với thế giới.

Chú thích

1-    Trần Xuân Hoài: Hành trình Hiến pháp Việt Nam dưới góc nhìn khoa học, boxitvn.net ngày 24-1-2013.

(*) Uỷ viên đoàn chủ tịch Uỷ ban đoàn kết công giáo Việt Nam, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban đoàn kết công giáo T.P. Hà Nội.

Discussion

Comments are closed.

%d bloggers like this: