//
you're reading...
Các vấn đề khác, Phân quyền và giám sát quyền lực

Tư pháp độc lập: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn – Nguyễn Đăng Dung

1. Tư pháp độc lập – một đóng góp lớn của dân chủ tư sản

Trong lịch sử của nhân loại, nhà nước được hình thành cách đây khoảng hơn 5.000 năm, nhưng bộ máy nhà nước được phân quyền mới chỉ được thiết lập cách đây khoảng gần 300 năm, kể từ khi có cách mạng tư sản. Cần phải khẳng định rằng trong những đóng góp cho sự phát triển nhân loại của nền dân chủ tư sản[1], việc hình thành một loại cơ quan xét xử đứng độc lập với các cơ quan nhà nước khác chiếm một vị trí rất quan trọng.

Tư pháp được hiểu ở phương Tây là xét xử – đồng nghĩa với hoạt động của tòa án để tìm ra công lý, công bằng cho tất cả mọi người. Tư pháp độc lập khi nó được xem xét như là một cành quyền lực, nghiêng ngửa với hai ngành lập pháp và hành pháp. Trong nhà nước pháp quyền với cơ chế phân quyền: Quốc hội có quyền lập pháp – làm luật, Chính phủ có quyền thi hành pháp luật – hành pháp, Tòa án có quyền tư pháp – xét xử. Quốc hội cũng như Chính phủ phải hoạt động trong phạm vi khuôn khổ của Hiến pháp. Vấn đề đặt ra cần phải có sự kiểm tra, giám sát việc tuân thủ Hiến pháp của các cơ quan này. Trong việc kiểm soát tính hợp hiến của hành pháp ban đầu người ta giao cho lập pháp, “song chẳng bao lâu sau đó người ta đã phát hiện ra rằng ngành tư pháp có thể thực hiện nhiệm vụ này tốt hơn nhiều…. Ngày nay, nhà nước pháp quyền không còn được đặc trưng bởi chức năng lập pháp như trước, mà bởi sự phát triển các thủ tục pháp lý nhằm bảo vệ pháp luật, trước sự tùy tiện của lập pháp và hành pháp”[2].

Việc tòa án có vai trò độc lập với các ngành quyền lực còn lại là điều quan trọng nhất của một nhà nước dân chủ. Cho dù những mối quan hệ của ngành tư pháp như thế nào với lập pháp và hành pháp, thì hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới người ta đều dựa vào tư pháp để giải thích pháp luật và để buộc hai ngành kia phải chịu trách nhiệm trước pháp luật cũng như phải tuân thủ các điều khoản của Hiến pháp. Nói cách khác, sự hiện diện của tư pháp độc lập được coi như là bằng chứng của một nền dân chủ. Ý nghĩa của nguyên tắc này nằm ở mục đích để cho tòa án có khả năng phán xét công bằng mọi tranh chấp trong xã hội. Hiện nay, không ai có thể nghi ngờ về thực tế: một nền dân chủ không thể có cơ sở tồn tại nếu hệ thống tư pháp đối xử không công bằng với các chủ thể trong xã hội; một quốc gia khó có thể ổn định và phát triển thịnh vượng nếu không có một hệ thống cơ quan tài phán độc lập với hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp.

Nội dung của nguyên tắc tư pháp độc lập được thể hiện tập trung ở ba khía cạnh: (i) Tòa án phải độc lập về mặt thể chế, nghĩa là phải có  hệ thống tổ chức và với những quy chế hoạt động riêng không trùng và không giống với hành pháp và lập pháp; (ii) Tòa án phải có hành chính nội bộ riêng; (iii) Quyết định của tòa án không bị sự can thiệp của các chủ thể khác trong xã hội. Phạm vi xét xử của tòa án không chỉ bao gồm các hành vi vi phạm pháp luật của thường dân, mà còn cả các hành vi của các quan chức nhà nước, thậm chí cả cơ quan nhà nước. Càng về sau này, các quan chức càng phải chịu trách nhiệm vì những hoạt động vi phạm pháp luật của mình, chịu những sự phán quyết của toà án tương xứng với những hành vi vi phạm pháp luật của họ. Thêm vào đó, việc xét xử của toà án không chỉ bao hàm các hoạt động thi hành pháp luật, mà với sự phát triển ngày càng cao của dân chủ, toà án còn xem xét cả những hoạt động ban hành các văn bản luật. Trên thực tế, toà án ở nhiều quốc gia trên thế giới đã dần dần thực hiện được một sự kiểm soát hạn chế, nhưng quan trọng, đối với tất cả các cơ quan lập pháp thông qua quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật khi xảy ra tranh chấp.

Để hoạt động xét xử của toà án có hiệu quả, các nhà cai trị cần phải tuân thủ pháp luật. Hệ thống tư pháp – toà án cần phải có những quyết định phân xử đúng sai đối với cả các quyết định của các quan chức nhà nước, nhằm chống lại những quyết định tuỳ tiện của họ. Việc buộc các nhà cai trị phải chấp hành pháp luật là một cuộc đấu tranh dai dẳng vì sự tiến bộ của dân chủ.

Tòa án độc lập tức là thẩm phán phải độc lập. Muốn cho thẩm phán độc lập, trước tiên thẩm phán phải có đủ năng lực và phải đủ điều kiện để thực hiện nhiệm vụ của mình. Việc thẩm phán không đủ năng lực và điều kiện làm việc cũng là nguyên nhân khiến dẫn đến sự phụ thuộc của họ vào các nhánh quyền lực khác. Để làm được việc này, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những quy định như nhiệm kỳ phải lâu dài, cũng như lương bổng của thẩm phán phải bảo đảm, thẩm phán không được tham gia các đảng phái chính trị cũng như   không được tham gia xét xử những vụ việc liên quan đến bản thân, gia đình mình…

Trong một nhà nước pháp quyền cần phải có sự phân quyền giữa lập  pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng tư pháp vẫn là cành quyền lực độc lập hơn cả. Đó là bởi:

Thứ nhất, hiện nay trên thế giới hầu hết các nhà nước đều được tổ chức theo mô hình dân chủ đại nghị, trong đó Chính phủ – hành pháp và Quốc hội (Nghị viện) – lập pháp, tuy khác nhau nhưng về cơ bản đều cùng phản ánh ý chí của đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền là đảng chiếm đa số ghế trong Quốc hội thông qua một cuộc đầu phiếu phổ thông, có quyền đứng ra thành lập Chính phủ. Thủ lĩnh của đảng cầm quyền sẽ là Thủ tướng Chính phủ. Các thành viên của Chính phủ về nguyên tắc đều là những người có chân trong ban lãnh đạo của đảng cầm quyền. Với nguyên tắc nghị sĩ của đảng nào chỉ được bỏ phiếutheo đường lối của đảng đó, cộng với quyền trình dự án luật trước Quốc hội, nên gần như hình thành một quy tắc là: mọi dự luật đều xuất phát từ Chính phủ – hành pháp và xét đến cùng, mọi hoạt động của Quốc hội – lập pháp và Chính phủ – hành pháp đều do đảng cầm quyền quyết định.

Thứ hai, sự can thiệp hay là sự chủ động đề xuất các hoạt động lập pháp của hành pháp không chỉ được thể hiện ở các nước mà bộ máy được tổ chức theomô hình cộng hòa đại nghị, mà còn được thể hiện trong những quốc gia mà bộ máy nhà nước được tổ chức theo mô hình cộng hòa tổng thống (ví dụ như nướcMỹ). Ở mô hình cộng hòa tổng thống, hành pháp – Tổng thống không được quyền trình dự án luật trước Quốc hội – lập pháp, nói cách khác, quyền lập phápđược Hiến pháp dành riêng cho cơ quan lập pháp, cụ thể là chỉ cho các nghị sĩ. Nhưng bằng các con đường không chính thức, Tổng thống – người đứng đầu cơ quan hành pháp vẫn có thể can thiệp rất sâu vào quá trình lập pháp của Quốc hội. Cụ thể, hàng năm Tổng thống gửi yêu cầu lập pháp của mình sang cho Quốc hội bằng cách đọc thông điệp trước Quốc hội, hoặc bằng cách yêu cầu các đảng viên cùng đảng của mình trình dự án luật mà Tổng thống muốn. Hơn thế,bằng quyền phủ quyết, Tổng thống có thể không cho phép thi hành hoặc chí ít là yêu cầu Quốc hội phải chỉnh lý theo ý chí của mình các dự thảo luật đã được Quốc hội thông qua.

Như vậy, cho dù được tổ chức theo mô hình cộng hòa đại nghị hay cộng hòa tổng thống thì lập pháp và hành pháp vẫn không có sự phân chia tuyệt đối với nhau. Hành pháp vẫn can thiệp được vào công việc của lập pháp, thậm chí các hoạt động lập pháp còn là nhu cầu của hành pháp. Bản thân Quốc hội về cơ bảnkhông có nhu cầu lập pháp nội tại. Tính hợp lý của nhu cầu lập pháp của hành pháp thể hiện ở chỗ, thông qua các đề xuất lập pháp mà hành pháp có khả năng triển khai các chủ trương, chính sách của mình nằm trong chương trình tranh cử của họ đã được nhân dân đa số bỏ phiếu thông qua và tạo nên tính hợp pháp các hoạt động của hành pháp.

Trong lịch sử phát triển của nhà nước trên thế giới, có thể thấy nhà nước Mỹ có một hệ thống tòa án được hưởng nhiều quyền độc lập hơn cả và quyết định của tòa án Mỹ được thực thi một cách nghiêm chỉnh hơn cả. Ngay cả ở nhà nước từng là mẫu quốc của họ (nước Anh) cũng không có một nền tư pháp mạnh mẽ như vậy. Mãi cho đến những năm gần đây, những nhà nước ở châu Âu mới nhận ra vấn đề này và đang có những cải cách cho kịp Mỹ. Đã có cả một thời kỳ nước Mỹ được mệnh danh là chính phủ của các quan tòa. Ở Mỹ, nếu mâu thuẫn trong xã hội không thể giải quyết được ở đâu thì cuối cùng phải đến tòaán để giải quyết. Ví dụ, tranh cãi trong cuộc bầu cử Tổng thống lần thứ 43 của Mỹ  giữa hai ứng cử viên Gore và Bush phải chờ đến phán quyết của Tòa án Tối cao liên bang. Vì vậy, có quan điểm cho rằng, không phải người dân Mỹ mà chính là tòa án đã bầu ra tổng thống. Nước Mỹ chi rất nhiều tiền của cho hoạt động xét xử nếu so với các quốc gia khác trên thế giới, song họ cho rằng, những chi phí đó là cần thiết để làm cho xã hội của họ dân chủ và phát triển thịnh vượng hơn.

2. Tư pháp độc lập theo luật nhân quyền quốc tế

Tính độc lập của tòa án từ lâu đã được nhấn mạnh trong luật quốc tế. Ngay trong Hiến chương năm 1945, Liên hợp quốc đã khẳng định quyết tâm xây dựng các điều kiện để thực thi công lý (với hàm ý về tính độc lập của  tòa án). Tiếp theo đó, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 đã chính thức ghi nhận nguyên tắc hoạt động độc lập, khách quan của tòa án như là một điều kiện để bảo đảm các quyền con người trong hoạt động tư pháp. Đến năm 1966, hai điều ước quốc tế cơ bản về nhân quyền là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá và Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sự được thông qua, trong đó đều nhắc lại và cụ thể hóa các quy tắc và tiêu chuẩn về tính độc lập của tòa án đã nêu trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948. Có thể khẳng định rằng, trong luật quốc tế, tính độc lập của tòa án được coi là một yếu tố gắn liền với việc bảo đảm các quyền con người, đặc biệt là quyền được xét xử công bằng.

Bên cạnh các văn kiện đã nêu, Liên hợp quốc đã thông qua Các nguyên tắc cơ bản về tính độc lập của tòa án[3] nhằm hỗ trợ các quốc gia thành viên trong việc bảo đảm và thúc đẩy tính độc lập của toà án. Trong phần đầu văn kiện này, Liên hợp quốc khuyến nghị các quốc gia tôn trọng và lồng ghép các nguyên tắc trong văn kiện này vào luật pháp và thông lệ quốc gia, cũng như phổ biến rộng rãi các nguyên tắc đó đến các thẩm phán, luật sư, nhân viên các ngành hành pháp, lập pháp và công chúng nói chung. Có thể tóm tắt những nội dung cơ bản của văn kiện này như sau:

Những nguyên tắc và yêu cầu chung về tính độc lập của toà án

Tính độc lập của toà án phải được nhà nước bảo đảm và ghi nhận chính thức trong Hiến pháp hay pháp luật quốc gia. Không chỉ như vậy, nhà nước phải bảo đảm rằng tất cả các cơ quan của mình có nhiệm vụ tôn trọng và tuân thủ tính độc lập của toà án.

Tính độc lập của toà án thể hiện ở việc tòa án phải có quyền quyết định các vụ việc một cách vô tư, không thiên vị, dựa trên bản chất của sự việc và theo luật pháp mà không chịu bất kỳ sự hạn chế, tác động hay ảnh hưởng nào không phù hợp, hoặc sự dụ dỗ, sức ép, đe doạ hay can thiệp sai trái, một cách trực tiếp hay gián tiếp, từ bất kỳ chủ thể nào, dựa trên bất kỳ lý do nào. Thêm vào đó, tòa án phải có quyền tài phán với mọi vấn đề thuộc thẩm quyền xét xử và có quyền quyết định các vụ việc được trình lên có thuộc chức năng xem xét của toà theo như luật pháp quy định hay không.

Nguyên tắc độc lập của tòa án cũng đòi hỏi không một chủ thể nào được can thiệp một cách vô cớ hay không thoả đáng vào quá trình xét xử, cũng như được xét lại các phán quyết của toà án. Chỉ có các tòa án cấp trên mới có quyền xét lại các phán quyết của tòa án cấp dưới theo trình tự tố tụng quy định trong pháp luật. Thêm vào đó, nguyên tắc này gắn với quyền của mọi người được xét xử bởi các toà án thông thường, với những thủ tục pháp lý đã được ấn định. Điều đó có nghĩa là việc tùy tiện lập ra một toà án đặc biệt nào đó để thay thế cho các tòa án thông thường được lập ra theo pháp luật sẽ bị coi là vi phạm nguyên tắc độc lập của tòa án.

Một điểm nữa là nguyên tắc độc lập của toà án đòi hỏi quyền của các bên tham gia tố tụng đều phải được tôn trọng, bất kể đó là bên buộc tội hay gỡ tội. Điều này liên quan đến phương thức tiến hành tố tụng mà theo đó, để bảo đảm tính độc lập của tòa án, tố tụng tại tòa phải là tố tụng tranh tụng chứ không phải tố tụng buộc tội. Tòa án chỉ đóng vai trò là trọng tài xem xét và phán quyết dựa trên việc đánh giá quan điểm của các bên buộc tội và gỡ tội chứ không tham gia vào bất cứ bên nào.

Cuối cùng, nguyên tắc độc lập xét xử của toà án đòi hỏi các quốc gia  phải cung cấp đầy đủ các nguồn lực để ngành toà án có thể thực hiện tốt những chức năng của mình mà không phụ thuộc vào bất cứ cơ quan nhà nước nào khác. Điều này xuất phát từ thực tế là nếu tòa án phụ thuộc vào nguồn nhân lực hay vật lực của một cơ quan nhà nước khác, tòa án có thể sẽ bị cơ quan nhà nước đó chi phối và mất đi tính độc lập của mình.

Những nguyên tắc và yêu cầu liên quan đến thẩm phán

Bên cạnh những nguyên tắc và yêu cầu chung đã đề cập, theo văn kiện kể trên, còn có một số nguyên tắc và yêu cầu cụ thể khác liên quan đến thẩm phán cũng được coi là cấu thành của các quy tắc về tính độc lập của tòa án, cụ thể như sau:

Về tự do biểu đạt và giao kết: Các thẩm phán cũng là công dân, do đó, cũng như các công dân khác, họ có các quyền công dân về dân sự, chính trị, trong đó bao gồm quyền được thành lập và tham gia hiệp hội của thẩm phán hay các tổ chức khác đại diện cho quyền lợi của họ. Tuy nhiên, trong khi thực hiện các quyền đó, thẩm phán phải luôn hành động và cư xử theo cách thức bảo đảm duy trì phẩm giá của công chức cũng như sự vô tư và tính độc lập của toà án[4].

Về tuyển chọn và đào tạo: Những người được chọn làm thẩm phán phải là các cá nhân liêm khiết, được đào tạo chuyên sâu về luật pháp. Việc bổ nhiệm thẩm phán không được thực hiện với những động cơ không chính đáng và không được mang tính chất phân biệt đối xử dựa trên bất kỳ yếu tố nào, trừ một yêu cầu thẩm phán phải là công dân của quốc gia có liên quan.

Về điều kiện dịch vụ và nhiệm kỳ: Thẩm phán, dù được bổ nhiệm hay bầu ra đều phải được bảo đảm thời gian làm việc cho đến tuổi về hưu hay hết nhiệm kỳ quy định. Thẩm phán cũng phải được bảo đảm các điều kiện về tính độc lập, an ninh, được trả thù lao thích đáng và được hưởng các chế độ bảo hiểm và bảo trợ xã hội. Việc đề bạt thẩm phán phải dựa vào những yếu tố khách quan về năng lực, tính liêm khiết và kinh nghiệm. Việc phân công thẩm phán xét xử các vụ việc phải là vấn đề nội bộ trong quản lý của các tòa án.

Về bí mật nghề nghiệp và quyền miễn trừ: Toà án phải thực hiện các quy định về bí mật nghề nghiệp liên quan đến quan điểm của thẩm phán và những thông tin mà thẩm phán thu thập trong quá trình thực thi nhiệm vụ mà không thuộc vào quá trình xét xử công khai. Thẩm phán không bị bắt buộc phải làm chứng về những quan điểm và thông tin đó. Ngoài ra, thẩm phán còn được hưởng quyền miễn trừ trong các vụ kiện dân sự vì những thiệt hại gây ra bởi những sai sót trong xét xử.

Về kỷ luật, đình chỉ và cách chức: Những cáo buộc hay khiếu nại chống lại thẩm phán liên quan đến việc xét xử của họ phải được xử lý nhanh chóng và công minh theo thủ tục pháp lý thích hợp. Thẩm phán cũng có quyền được xét xử công bằng. Thẩm phán có thể bị kỷ luật, đình chỉ hay cách chức do thiếu năng lực hay vì có những hành vi không phù hợp với chức phận của họ, tuy nhiên, việc kỷ luật, đình chỉ hay cách chức như vậy phải được quyết định dựa trên các tiêu chuẩn đạo đức thẩm phán mà đã được quy định và phải được xem xét lại một cách độc lập.

3. Tư pháp độc lập trong Hiến pháp trên thế giới

Theo một nghiên cứu gần đây (Dự án Hiến pháp so sánh – Comparative Constitutions Project – CCP)[5], ở thời điểm năm 2000, tính chung có 65% Hiến pháp hiện hành ở các quốc gia có điều khoản quy định rõ về tính độc lập của tòa án. Ở một số khu vực, tỷ lệ lên tới gần 100%. Xét về xu thế phát triển, tính trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ XIX đến nay, nhìn chung tỷ lệ Hiến pháp trên thế giới quy định về vấn đề này ngày càng cao (xem các Biểu 1 và 2 dưới đây).

Biểu 1: Tỷ lệ Hiến pháp trên thế giới quy định về tính độc lập của tòa án (phân theo khu vực, ở thời điểm năm 2000) [6]

b1

Biểu 2: Tỷ lệ Hiến pháp trên thế giới quy định về tính độc lập của tòa án

(trong giai đoạn từ năm 1850 đến năm 2000) [7]

b2

Cũng theo CCP, cách thức quy định về độc lập tư pháp trong Hiến pháp các nước trên thế giới ít  nhiều khác nhau, song tựu trung có thể quy vào mấy dạng chính đó là:

– Quy định một cách trực tiếp là tòa án hoặc cơ quan tư pháp độc lập với mọi sự can thiệp từ bên ngoài. Ví dụ, Hiến pháp Ý năm 2003 (Điều 104) quy định:“Cơ quan tư pháp tự chủ và độc lập với mọi quyền lực khác”. Tương tự, Hiến pháp An-giê-ri năm 2002 (Điều 138) quy định: “Quyền lực tư pháp là độc lập. Nó được thực thi trong khuôn khổ pháp luật”; Hiến pháp Cộng hòa Pháp năm 2005 (Điều 64) nêu rõ: “Tổng thống nước Cộng hòa là nhà bảo trợ cho sự độc lập của cơ quan tư pháp”…

– Quy định thông qua việc xác định nguyên tắc tam quyền phân lập. Ví dụ, Hiến pháp Braxin năm 2005 (Điều 2) quy định: “Cách nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau”. Tương tự, Hiến pháp Ma-rốc năm 1996 (Điều 82) quy định: “Cơ quan tư pháp độc lập với các quyền lực lập pháp và hành pháp”; Hiến pháp Bờ biển Ngà năm 2000 (Điều 101) cũng nêu rõ: “Quyền lực tư pháp độc lập với quyền lực lập pháp và quyền lực hành pháp”[8]…

– Quy định thông qua việc xác định tính độc lập của thẩm phán. Ví dụ, Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 (Điều 76) quy định: “Tất cả thẩm phán phải được độc lập trong khi thực thi quyền hạn của mình mà chỉ phải tuân thủ Hiến pháp và các luật”. Tương tự, Hiến pháp Thái Lan năm 1997 (Điều 249) quy định: “Thẩm phán độc lập trong xét xử phù hợp với Hiến pháp và pháp luật”, Hiến pháp Fiji năm 1998 (Điều 118) nêu rõ: “Các thẩm phán của nhà nước độc lập với cách nhánh lập pháp và hành pháp của chính phủ”. Các Hiến pháp của Việt Nam, từ Hiến pháp 1946, 1960, 1980, 1992 (sửa đổi năm 2001) cũng đều quy định theo mô thức này[9]..

– Quy định gián tiếp thông qua việc khẳng định quyền của bị cáo được xét xử công bằng. Ví dụ, Hiến pháp Kenya năm 1969 (Điều 77) quy định: “Bất kỳ người nào bị cáo buộc phạm tội đều phải được xét xử công bằng trong thời hạn hợp lý bởi một tòa án độc lập và vô tư được thành lập theo pháp luật”.

Ngoài ra, một số Hiến pháp quy định về độc lập tư pháp ở mức độ giới hạn. Ví dụ, Hiến pháp Haiti năm 1946 (Điều 36) quy định các nhánh quyền lực độc lập với nhau về trách nhiệm. Hiến pháp Phi-lip-pin năm 1986 (Điều 8.3) chỉ quy định sự tự chủ về tài chính của các cơ quan tư pháp…

Bên cạnh quy định trực tiếp về nguyên tắc độc lập tư pháp, nhiều Hiến pháp trên thế giới còn quy định về một số yếu tố bảo đảm cho nguyên tắc này đã đề cập ở mục trên, trong đó bao gồm quy định về nhiệm kỳ và lương của thẩm phán. Cụ thể như sau:

Về nhiệm kỳ của thẩm phán, theo nghiên cứu của CCP, quy định trong Hiến pháp trên thế giới rất đa dạng, có các mức từ 1,2,3,4,5,6,7,8,9,12,15 năm đến suốt đời (mức này lại có hai dạng: nhiệm kỳ kéo dài cho đến tuổi về hưu và cho đến khi chết)[10]. Ở mức lý tưởng nhất để bảo đảm cho tính độc lập của thẩm phán, ở thời điểm năm 2000, tính chung có 26% số Hiến pháp quy định nhiệm kỳ suốt đời của thẩm phán (trong đó có khu vực tỷ lệ này đạt trên dưới 40%) và tính từ cuối thế kỷ XIX đến nay, nhìn chung tỷ lệ Hiến pháp trên thế giới quy định về vấn đề này giữ ổn định trong khoảng trên dưới 20% (xem các Biểu 3 và 4 dưới đây).

Biểu 3: Tỷ lệ Hiến pháp trên thế giới quy định nhiệm kỳ suốt đời của thẩm phán (phân theo khu vực, ở thời điểm năm 2000) [11]

b3

Biểu 4: Tỷ lệ Hiến pháp trên thế giới quy định nhiệm kỳ suốt đời của thẩm phán   (trong giai đoạn từ năm 1850 đến năm 2000) [12]

b4

Về lương của thẩm phán, theo nghiên cứu của CCP, ở thời điểm năm 2000, có khoảng 25% Hiến pháp trên thế giới quy định lương của thẩm phán do pháp luật quy định để tránh việc Chính phủ có thể can thiệp vào tính độc lập của họ (có khu vực tỷ lệ này lên tới 70%)[13]. Tính từ cuối thế kỷ XIX đến nay, nhìn chung tỷ lệ Hiến pháp trên thế giới quy định về vấn đề này giữ ổn định trong khoảng trên dưới 25% (xem các Biểu 5 và 6 dưới đây).

Biểu 5: Tỷ lệ Hiến pháp trên thế giới quy định nguồn riêng để trả lương cho thẩm phán (phân theo khu vực, ở thời điểm năm 2000) [14]

b5

Biểu 6: Tỷ lệ Hiến pháp trên thế giới quy định nguồn riêng để trả lương cho thẩm phán (trong giai đoạn từ năm 1850 đến năm 2000) [15]

b6

4Độc lập tư pháp và bảo đảm độc lập tư pháp ở nước ta hiện nay
So với các nước phát triển, ở các nước chậm phát triển trong đó có Việt Nam,  người dân ít được hưởng những thành quả của một nền tư pháp độc lập. Bởi vì sự độc lập thực sựcủa tư pháp về nguyên tắc chỉ có thể có trong bối cảnh có sự phân quyền rõ ràng giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp. Do vậy, việc thiếu vắng tư pháp độc lập trong các thời kỳ phong kiến, thực dân và cả trong thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp như ở nước ta trước đây cũng là một điều dễ giải thích. Hình ảnh được ngưỡng mộ và tôn thờ của người dân ngày xưa là Bao Công – tượng trưng cho nền công lý thời phong kiến ở Trung Quốc và các nước Đông Á khác như Việt Nam – hiện không còn thích hợp với những yêu cầu của công việc xét xử hiện nay. Đó là bởi trong cơ chế tư pháp ấy không có luật sư bào chữa, mọi sự đều phải trông chờ vào tính công minh chính đại của một ông quan thực thi cả quyền hành chính và quyền xét xử. Hình ảnh người phạm nhân được dẫn công đường chưa được xét xử nhưng đã mang sẵn cái gông trên cổ và phải quỳ mọp gối trước mặt ông quan huyện in sâu vào tâm trí người dân như một sự khiếp hãi hơn là một ấn tượng về công lý, dẫn đến câu ngạn ngữ cửa miệng của họlà “Vạn bất đắc dĩ mới đến cửa quan”. Đáng tiếc là câu này hiện ít nhiều vẫn còn được người dân sử dụng ở nước ta, trong đó “cửa quan” ở đây được dùng để chỉ trụ sở của các cơ quan nhà nước, bao gồm cả tòa án. Ý nghĩa sâu xa của câu thành ngữ này nằm ở chỗ nhiều người dân không tin tưởng vào khả năng tìm kiếm công lý ở hệ thống cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan tòa án nói riêng, nên việc họ phải đến đó để trình bày, nhờ giải quyết sự việc chỉ là việccùng bất đắc dĩ.Hệ thống tư pháp hiện nay ở nước ta chỉ mới được xây dựng từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Về hình thức, tính độc lập tư pháp cũng được quy định trong các Hiến pháp từ trước tới nay (xem mục trên, các ghi chú 9 và 10), tuy nhiên, trên thực tế tính độc lập của các tòa án ở Việt Nam từ trước tới nay chưa bao giờ được bảo đảm đúng như các tiêu chuẩn chung trên thế giới.Nhìn lại thực trạng nền tư pháp của Việt Nam, mặc dù có những thành công rất đáng kể góp phần không nhỏ trong công cuộc giải phóng và bảo vệ Tổ quốc cũng như bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người dân nhưng trong lĩnh vực này vẫn còn  nhiều tồn tại, gây không ít khó khăn nhất định cho công cuộc đổi mới và xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay. Song rất mừng là Đảng và Nhà nước đã nhận thức rõ những tồn tại của hệ thống tư pháp hiện hành vàđang tiến hành công cuộc cải cách nó. Nhiệm vụ trước tiên của công cuộc cải cách này phải nhìn nhận lại vấn đề tư pháp kể cả về mặt lý luận và về mặt thực tiễn, mà thể hiện ở những khía cạnh cơ bản như sau[16]:      
 (i)  Hoạt động tư pháp của Việt Nam không hoàn toàn giống như của các nhà nước tư bản, vì nó không chỉ bao gồm có các cơ quan xét xử, mà còn có cả các cơ quan điều tra, công tố và những cơ quan hoạt động bảo trợ tư pháp khác như: công chứng, luật sư, pháp y… Khái niệm tư pháp của Việt Nam được sử dụng như khái niệm tư pháp của Trung quốc, từ tiếng Hán cổ. Điều này chứng tỏ sự phân quyền của nhà nước chúng ta không được chuẩn tắc theo các quy định của nhà nước pháp quyền, không có sự phân quyền rạch ròi giữa hành pháp và tư pháp. Quyền hành pháp của chúng ta không bao gồm quyền công tố buộc tội của Viện Kiểm sát. Chính phủ – hành pháp trước hết phải được hiểu ở tầm hẹp nhất là phải giữ gìn trị an cho người dân, phòng và chống tội phạm. Muốn thực hiện tốt quyền này mà không có quyền công tố buộc tội thì không thể nào đảm đương được. Chính phủ quản lý rất tốt mọi mặt, trong đó có cả phát triển kinh tế, mà tội phạm đầy rẫy thì cũng không thể nào đứng vững được.
(ii) Nguyên tắc độc lập của tòa án chưa được tuân thủ một cách triệt để ở nước ta, bởi lẽ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam vẫn phải theo theo nguyên tắc tập quyền. Nguyên tắc tập quyền không thể là cơ sở cho sự độc lập của tòa án bởi nó dẫn đến việc quyết định của tòa án khó tránh khỏi phụ thuộc vào sự chỉ dẫn, sự can thiệp của các cơ quan nhà nước khác. Trên thực tế, mặc dù nguyên tắc về tính độc lập của toà án đã được ghi nhận chính thức trong Hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật khác, song nó chưa được tất cả các cơ quan Đảng và Nhà nước thực sự tôn trọng và tuân thủ. Hiện tượng can thiệp vào hoạt động xét xử của tòa án và thẩm phán còn diễn ra khá phổ biến, ở nhiều cấp độ, dưới nhiều hình thức, khiến cho các tòa án và thẩm phán trong nhiều trường hợp không thể quyết định vụ việc một cách khách quan, vô tư, chỉ tuân theo luật pháp. Nhìn chung tư pháp ở nước ta vẫn còn mang đặc điểm của thời kỳ chiến tranh, bao cấp; chưa nghiêng hẳn về bảo vệ công lý. Tòa án không phải là cấp xét xử cuối cùng, vẫn chịu sự giám sát của các cơ quan nhà nước khác. Ở đây, nếu thiếunhững điều kiện đảm bảo thực hiện thì sự độc lập của tòa án chỉ là một tuyên bố mà không thểthực hiện trong thực tế. 
 (iii) Quá trình xét xử của tòa án ở Việt Nam chưa thực sự theo nguyên tắc tranh tụng mà vẫn nặng theo nguyên tắc xét hỏi, luật sư chỉ đóng vai trò thứ yếu. Ở đây, không hẳn là việc chuyển hoàn toàn sang mô hình tố tụng tranh tụng là phù hợp với điều kiện ở nước ta, song việc duy trì quá lâu mô hình tố tụng buộc tội mà chậm cải tổ rõ ràng đang tạo ra sự bất bình đẳng lớn giữa các bên tham gia tố tụng, ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động xét xử. Đó là chưa kể hoạt động tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay vẫn thiên về xu hướng bắt nhầm còn hơn bỏ sót. Vì vậy, người có hành vi mặc dù chỉ ở mức độ phát hiện tội phạm đều có thể bị bắt giam để tiến hành điều tra để buộc tội, mà rất ít khi dựa trên các quyết định có hiệu lực của tòa án. Nhiều vụ án không có đủ bằng chứng để kết tội phải hoãn phiên tòa để tiến hành điều tra bổ sung. Về các vụ việc dân sự, khi xét xử tòa án chưa thực sự tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên, nhiều trường hợp có sự can thiệp của Viện Kiểm sát, nhiều trường hợp thẩm phán phải tự đi thu thập các chứng cứ.
(iv) Khác với nhiều nước, phạm vi xét xử của tòa án Việt Nam hiện nay vẫn chưa phủ hết mọi hoạt động của xã hội, có những lĩnh vực hoạt động của nhà nước vẫn chưa thuộc phạm vi xét xử của tòa án. Trong khi đó, có những lĩnh vực đáng lẽ phải thuộc quyền xét xử của tòa án thì lại bị bỏ sót. Cụ thể, theo luật nhân quyền quốc tế, việc tước tự do của con người trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều phải do tòa án quyết định (tức là theo thủ tục tư pháp) tuy nhiên, theo pháp luật hiện hành của nước ta, việc đưa trẻ em làm trái pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự vào các trường giáo dưỡng, đưa phụ nữ mại dâm vào các trung tâm phục hồi nhân phẩm, đưa người nghiện ma túy vào các trung tâm cai nghiện… vẫn theo thủ tục hành chính, do các cơ quan hành chính quyết định. Trong tất cả những trường hợp này, không thể nói rằng đó không phải là tước tự do, vì thời hạn quản chế trong các cơ sở đã nêu ngắn nhất là sáu tháng, dài nhất tới hai năm[17].
(v) Kinh phí hoạt động của hệ thống tòa án ở nước ta hiện vẫn phụ thuộc chặt chẽ vào các cơ quan nhà nước khác, đồng thời phụ thuộc vào các tòa án cấp trên. Tình trạng này khiến cho các tòa án khó tránh khỏi sự tác động của các cơ quan nhà nước khác, cũng như khiến cho các tòa án cấp dưới khó duy trì sự độc lập xét xử với tòa án cấp trên. Trong khi đó, các thẩm phán, hội thẩm và những chức danh tư pháp khác làm việc trong tòa án ở nước ta hiện vẫn chưa có một hiệp hội nghề nghiệp riêng. Mặc dù về nguyên tắc, họ có thể tham gia Hội Luật gia Việt Nam song tổ chức này quá rộng (bao trùm tất cả những người có chuyên môn và làm việc trên lĩnh vực pháp luật) trong khi năng lực yếu, tổ chức và hoạt động mang nặng tính hình thức và quan liêu nên không phải và thực tế chưa từng là diễn đàn thích hợp để xúc tiến việc đào tạo chuyên môn cũng như để bảo vệ quyền độc lập xét xử của thẩm phán.
(vi) Việc bổ nhiệm thẩm phán ở nước ta hiện dựa rất nhiều vào các tiêu chuẩn về chính trị, tư tưởng, trong khi lẽ ra cần nhấn mạnh các tiêu chuẩn về chuyên môn và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. Do đó, nhiều thẩm phán được bổ nhiệm nhưng vẫn còn yếu kém về phẩm chất và năng lực. Đó là chưa kể quy trình bổ nhiệm có sự tham gia của quá nhiều chủ thể ngoài ngành, khiến áp lực đè lên các thẩm phán rất lớn, tất yếu khiến họ bị phụ thuộc và không thể giữ được tính độc lập trong hoạt động nghề nghiệp nếu như muốn được bổ nhiệm hoặc tái bổ nhiệm. Trong khi đó, việc đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ thẩm phán ở nước ta tồn tại những vấn đề bất hợp lý, minh chứng là số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học luật trong những năm gần đây rất nhiều song ngành tòa án hiện vẫn kêu thiếu thẩm phán, đặc biệt là ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Thêm vào đó, trong những năm vừa qua, ở nhiều địa phương một số người chỉ có trình độ đại học luật tại chức mà vẫn được bổ nhiệm thẩm phán, trong khi có hàng ngàn cử nhân luật chính quy tốt nghiệp loại khá, giỏi vẫn thất nghiệp.
(vii) Nước ta hiện vẫn áp dụng chế độ bổ nhiệm thẩm phán theo định kỳ. Các thẩm phán, mặc dù mức lương có cao hơn so với mức lương chung của các ngành khác, song vẫn thấp so với nhu cầu bảo đảm đời sống và tích lũy cho họ và gia đình. Đây cũng là những yếu tố mà theo kinh nghiệm quốc tế thường có ảnh hưởng lớn đến tính độc lập trong hoạt động nghề nghiệp của thẩm phán.
(viii) Mặc dù ở nước ta, việc phân công thẩm phán xét xử các vụ việc về nguyên tắc là vấn đề nội bộ quản lý của các tòa án, tuy nhiên, trong thực tế nguyên tắc này không phải lúc nào cũng được tôn trọng. Quan trọng hơn, trong hoạt động của các tòa án, một số quy tắc “bất thành văn” như báo cáo án, thỉnh thị án, duyệt án… vẫn được áp dụng một cách phổ biến. Cho dù những quy tắc này thường được biện hộ như là sự “tham khảo” về chuyên môn nhưng thực tế không hẳn như vậy. Những quy tắc này rõ ràng mâu thuẫn với những nguyên tắc và yêu cầu về tính độc lập của tòa án và thẩm phán vì nó cho phép các tòa án cấp trên can thiệp vào công việc xét xử của tòa án cấp dưới, cũng như cho phép lãnh đạo các tòa án can thiệp vào quyền quyết định độc lập của các thẩm phán.
(ix) Hiện pháp luật nước ta chưa có những quy định cụ thể về việc giữ bí mật nghề nghiệp và quyền miễn trừ của thẩm phán. Điều này có thể gây rủi ro cho các thẩm phán trong hoạt động nghề nghiệp và ảnh hưởng đến việc xét xử độc lập của họ. Đây cũng là sự bất cập của pháp luật nước ta so với các quy định có liên quan của pháp luật quốc tế.  Từ những phân tích ở trên, có thể thấy rằng, trọng tâm của cải cách tư pháp hiện nay là đảm bảo cho nguyên tắc toà án độc lập có hiệu lực trên thực tế. Cụ thể, cải cách tư pháp cần lưu ý những vấn đề sau:Thứ nhất, bảo đảm quyền tư pháp được phân công, phân nhiệm rõ ràng. Ở đây, mọi công cuộc cải cách tư pháp từ khi có cách mạng tư sản cho đến hiện nay đều phải xoay quanh nguyên tắc độc lập của tòa án. Vì lẽ đó, cuộc cải cách tư pháp của chúng ta cũng không thể nào nằm ngoài quy luật trên. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, cùng với sự dần dần càng đi đến chỗ đoạn tuyệt với cơ chế kinh tế tập trung, bao cấp, hoạt động của các cơ quan tư pháp càng ngày càng có ý nghĩa, thì việc cải cách tư pháp đang trở nên ngày một bức xúc.Đấu tranh cho nguyên tắc độc lập của toà án cũng là cuộc chiến lâu dài của nhiều nhà nước trên thế giới.
Như đã đề cập ở các phần trên, nguyên tắc toà án độc lập là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức hoạt động bộ máy nhà nước, được nhiều Hiến pháp quy định thành nguyên tắc hiến định. Với chúng ta hiện nay, có lẽ trước hết cần phải chỉnh lại khái niệm tư pháp cho phù hợp với các nước trên thế giới, sau đấy phải tìm ra những biện pháp bảo đảm cho nguyên tắc độc lập được thực hiện trên thực tế.
Trước hết, Viện Kiểm sát cần trả lại chức năng buộc tội cho hành pháp, hoặc ngược lại, nếu còn để Viện Kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội thì ViệnKiểm sát phải trực thuộc hành pháp. Viện Kiểm sát không nên kiêm chức năng kiểm sát xét xử.Điều tra là hoạt động quan trọng bậc nhất của tố tụng và là khâu đầu tiên, đồng thời cũng là khâu có tính quyết định nhất trong toàn bộ quy trình hoạt động xét xử của tòa án tiếp theo. Tất cả các hoạt động công tố, xét xử dù thế nào chăng nữa cũng phải căn cứ vào kết quả xác thực của các hoạt động điều tra. Vì vậy hoạt động điều tra phải gắn chặt hoặc ít nhất là dưới sự chỉ đạo trực tiếp của hoạt động buộc tội.Cũng liên quan đến khía cạnh trên, cần nghiên cứu và thay đổi nhiều quy định pháp luật về tổ chức bộ máy, quy chế hoạt động, quan hệ với các cơ quan nhà nước khác… của hệ thống tòa án để giảm thiểu sự can thiệp, tác động, cả trực tiếp và gián tiếp, của các chủ thể bên ngoài, qua đó bảo đảm tính độc lập thực sự của các tòa án. Đây là một sự thay đổi to lớn và khó khăn, vì nó liên quan đến một loạt vấn đề trong đó có những vấn đề động chạm đến quan hệ giữa các cấp ủy đảng với các tòa án và thẩm phán. Mặc dù vậy, sự thay đổi là rất cần thiết, và mức độ, chiều sâu của sự thay đổi tỷ lệ thuận với hiệu quả hoạt động của hệ thống tòa án.
Thứ hai, cần mở rộng đối tượng xét xử của tư pháp. Trong nhà nước pháp quyền với cơ chế phân quyền, Quốc hội và Chính phủ cũng phải hoạt động trong phạm vi khuôn khổ của Hiến pháp. Vấn đề đặt ra là cần phải có sự kiểm tra, giám sát việc tuân thủ Hiến pháp của các cơ quan này. Lịch sử của các nhà nước tư sản đã chứng minh không một chủ thể nào có thể làm tốt hơn chức năng này bằng hoạt động xét xử của tòa án. Trong nghị quyết của Đảng đã có quyết định về việc thành lập tòa án hiến pháp để xét xử các hành vi vi phạm Hiến pháp của bất kỳ cơ quan tổ chức nhà nước nào. Đó là một trong những biểu hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền. Vấn đề ở đây là tổ chức thực hiện chủ trương đó như thế nào. Liên quan đến vấn đề trên, thực tế từ trước tới nay ở nước ta, tòa án luôn được nhấn mạnh là cơ quan xét xử. Chính vì vậy, hệ thống tòa án ở nước ta về cơ bản mới chỉ làm tốt nhiệm vụ bảo vệ Nhà nước và ở mức độ nhất định là bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của công dân trước sự xâm hại của các công dân và chủ thể phi nhà nước khác. Tòa án ở nước ta từ trước đến nay chưa thể coi là đã đóng vai trò thực sự của một cơ quan bảo vệ công lý, theo nghĩa là bộ máy hay lá chắn giúp bảo vệ công dân trước những vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của chính các cơ quan và công chức nhà nước. Như vậy, để  đổi mới hệ thống và bảo đảm tính độc lập của tòa án, trước tiên cần thay đổi nhận thức hay cách tiếp cận về tòa án, cần xem đó là cơ quan bảo vệ công lý thay bằng, hay đồng thời với việc coi đó là cơ quan xét xử.
Thứ ba, cần chuyển mạnh phương thức xét xử từ tố tụng buộc tội sang tố tụng tranh tụng. Điều này không chỉ liên quan đến những thay đổi về pháp luật tố tụng, mà còn đến việc giáo dục, chuyển đổi nhận thức và thái độ của các thẩm phán, hội thẩm và thư ký tòa án. Ngoài ra, thay đổi về vấn đề này còn cần gắn với việc mở rộng vai trò của luật sư trong hoạt động tố tụng. Thêm vào đó, cần có những giải pháp hiệu quả về kinh phí hoạt động của hệ thống tòa án nhằm bảo đảm các tòa án không phụ thuộc vào bất cứ cơ quan nào, kể cả vào các tòa án cấp trên, về kinh phí hoạt động. Ở nhiều quốc gia, pháp luật quy định một tỷ lệ phần trăm nhất định ngân sách nhà nước hay ngân sách địa phương đương nhiên phải phân bổ cho hoạt động của tòa án; điều này giúp các tòa án không bị ràng buộc bởi cơ chế “xin-cho” kinh phí, từ đó không phải phụ thuộc vào các cơ quan nhà nước khác hay vào tòa án cấp trên. Đây có thể là một kinh nghiệm tốt với nước ta. 
Thứ tư, mặc dù là độc lập để đảm bảo phán xử công bằng, nhưng tòa án vẫn phải chịu sự giám sátHoạt động giám sát của người dân cũng như của nhiều tổ chức xã hội cũng như trong bản thân của cơ cấu nhà nước đối với hoạt động của cơ quan nhà nước là biểu hiện của dân chủ cũng như là sự văn minh của nhân loại. Với nguyên tắc này, hoạt động xét xử của tòa án cũng phải chịu sự giám sát của nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội. Tuy nhiên, việc giám sát các hoạt động xét xử của tòa án phải khác với việc giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước khác ở điểm không được tự tiện thay đổi các quyết định án đã được xét xử của tòa án. Việc thay đổi các quyết định án phải tuân theo thủ tục tố tụng các cấp xét xử của hệ thống tòa án: án sơ thẩm phải được kiện lên phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Nhưng trong trườnghợp có quá nhiều án phải xử đi xử lại, thì phải xem xét lại chất lượng của việc bổ nhiệm thẩm phán của các cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm thẩm phán.  Cách đây không lâu, vấn đề “án đụng trần” được báo chí luận bàn rất sôi nổi. Có nhiều ý kiến rất khác nhau của các nhà khoa học và các nhà quản lý cao cấp. Có quan điểm cho rằng, nếu Hội đồng Thẩm phán xét xử sai thì chuyển sang cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH)xử và nếu UBTVQH xử sai thì lại chuyển sang cho Quốc hội. Làm như vậy là vi phạm nguyên tắc xét xử độc lập của tòa án. Cải cách tư pháp là phải làm sao giữ cho nguyên tắc này không bị vi phạm chứ không phải là đặt vấn đề để rồi đưa đến chỗ nghi ngờ nó. Việc tòa án sai chỉ có thể được sửa bằng một quyết định của tòa án, theo một trình tự tố tụng, mà không thể bằng một quyết định của các cơ quan ngoài tòa án. Cũng như các hoạt động khác của Nhà nước phải đặt dưới sự kiểm tra giám sát của công luận, tòa án cũng phải đặt dưới sự kiểm tra giám sát của công luận. Nhưng không phải vì thế mà có thể can thiệp vào nguyên tắc độc lập của tòa án, thay tòa án ra quyết định bản án hoặc làm ảnh hưởng đến các quyết định của tòa án. Công lý phải nhanh, công lý cũng phải có điểm dừng và công lý đến chậm cũng bằng như là không có công lý. Nếu vin vào lập luận cho rằng quyết định của tòa án sai mà không thi hành, thì đó là sai lầm lớn tạo nên sự bất tin của nhân dân đối với Nhà nước.
Thứ năm, giải thích Hiến pháp và luật phải là một trong những biểu hiện thẩm quyền của quyền tư pháp. Theo quy định của Hiến pháp, UBTVQH có thẩm quyền giải thích Hiến pháp và pháp luật. Nhưng cho đến nay, UBTVQH không thực hiện được chức năng này, bởi lẽ, về nguyên tắc đó là cơ quan lập pháp chứ không phải là cơ quan áp dụng luật. Nguyên tắc “Người làm được việc lớn thì tất nhiên bao giờ cũng làm được việc nhỏ” của hệ thống luật La Mã cổ đại trong điều kiện hiện nay có lẽ không phù hợp và nếu còn đi chăng nữa thì đấy là hoạt động lập pháp chứ không phải là giải thích luật. Lập pháp là chức năng của Quốc hội và thông qua pháp lệnh cũng thuộc chức năng của UBTVQH. Muốn giải thích được các điều luật một cách chính xác thì phải trăn trở với nó, vì vậy buộc phải đặt việc giải thích trong một vụ việc cụ thể, gắn với các sự kiện pháp lý cụ thể. Chỉ có Tòa án với nguyên tắc nghĩa vụ phải xét xử của thẩm phán mới có điều kiện cũng như nghĩa vụ giải thích các điều luật. Điều này có nghĩa là giải thích điều luật phải gắn với một trường hợp cụ thể mà không thể là giải thích chung chung, rơi vào tình trạng của việc giải thích trừu tượng. Việc trao quyền này cho UBTVQH tức là không phân biệt rõ và thậm chí còn là nhầm lẫn giữa lập pháp và tư pháp.Thứ sáu, đảm bảo cho tòa án độc lập chính là đảm bảo cho thẩm phán độc lập. Sự độc lập của tòa án không chỉ giản đơn có trong giai đoạn xét xử bằng một tuyên bố của Hiến pháp, mà còn cần phải mở rộng sự độc lập này ra khỏi phạm vi xét xử và cả những cơ chế chính sách khác kèm theo. Nguyên tắc độc lập của toà án khi xét xử không chỉ được tuyên bố trong bản văn Hiến pháp mà tự nhiên nó có thể thực hiện trên thực tế. Muốn có được sự thực hiện nguyên tắc trên phải cần một loạt những đảm bảo kèm theo cả về thể chế luật pháp lẫn chủ trương,chính sách.Điều 130 Hiến pháp hiện hành quy định:“Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập, và chỉ tuân theo pháp luật”. Theo quy định này, nguyên tắc độc lập của tư pháp được tuyên bố ở một công đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng – khi xét xử. Sự độc lập của toà án không thể có được nếu chỉ dừng lại đơn thuần ở khâu xét xử. Không thể có sự độc lập khi xét xử trong khi các công đoạn khác của cả một quy trình tố tụng không được tuyên bố là độc lập, nhất là trong cuộc sống, thẩm phán và hội thẩm vẫn còn phải phụ thuộc vào lập pháp, vào hành pháp, vào các chủ thể nắm quyền lực khác của Nhà nước.Vì lẽ đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay là nhanh chóng tổ chức hoạt động xét xử của tư pháp vượt ra khỏi vòng cương tỏa của các đơn vị hành chính. Các đơn vị hành chính được tổ chức ra nhằm mục đích quản lý, mà không phải dành cho hoạt động của tư pháp – xét xử.
Như đã đề cập ở các phần trên, để bảo đảm cho thẩm phán độc lập, cần đáp ứng một số điều kiện, trong đó có những điều kiện xin nhắc lại và làm rõ thêm dưới đây trên cơ sở gắn với hoàn cảnh của Việt Nam:
–  Tăng cường trách nhiệm của thẩm phánMột xã hội tốt đòi hỏi phải có các thể chế pháp lý vô tư và công bằng. Điều này có nghĩa là phải đảm
bảo sự độc lập trong quá trình ra quyết định của tư pháp không bị chi phối bởi sự can thiệp của bất kể chủ thể nào. Một hệ thống tư pháp độc lập đối với cả sự can thiệp của Chính phủ và ảnh hưởng của các bên có liên quan trong tranh chấp là sự hỗ trợ  tốt nhất cho sự hiệu lực của pháp luật. Nếu luật pháp hay toà án bị xem xét là thiên vị hay tuỳ tiện thì trật tự xã hội sẽ bị suy giảm. Để có sự công bằng, cần phải có các thể chế làm cho các thẩm phán phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Sự độc lập của hệ thống tư pháp cần phải đi cùng với cơ chế trách nhiệm giải trình trong hệ thống tư pháp. Khi các thẩm phán phải chịu trách nhiệm về những hành động của mình, thì hệ thống tư pháp trở nên có hiệu quả hơn và các thẩm phán có thể giải quyết các vụ kiện một cách nhanh chóng và công bằng hơn.      
 – Đảm bảo thẩm phán có nhiệm kỳ vững chắc và lâu dàiCác thẩm phán không thể có một thái độ trung thành với Hiến pháp và các quyền tự do của người dân nếu nhiệm kỳ của họ chỉ có tính cách tạm thời theo một thời hạn nhất định. Một khi chỉ được bổ nhiệm trong một nhiệm kỳ ngắn ngủi dù theo bất cứ một thể thức nào hoặc do bất cứ một ngành quyền nào cũng vậy, các thẩm phán sẽ không thể có được một tinh thần độc lập và cương quyết. Nếu quyền bổ nhiệm được giao phó cho ngành hành pháp hoặc cho ngành lập pháp thì lẽ đương nhiên phải tùy thuộc vào một trong hai ngành này vì họ phải lấy lòng những người bổ nhiệm. Nếu quyền bổ nhiệm lại được giao cho dân chúng, tức là chức vụ chánh án phải do dân chúng bầu cử, thì cũng sẽ là lẽ đương nhiên thẩm phán muốn đắc cử thì buộc phải lấy lòng người dân, mà không cần đếm xỉa gì đến Hiến pháp và luật pháp[18].Ngoài những lý do kể trên, còn một lý do khác rất quan trọng để cho các thẩm phán có một nhiệm kỳ dài. Đó là lý do liên quan đến những điều kiện chuyên môn của thẩm phán. Một xã hội càng tự do bao nhiêu thì luật lệ của nó càng rắc rối, tỉ mỉ và phức tạp bấy nhiêu. Càng ngày các vụ việc xét xử càng nhiều thêm, các vụ tranh luận càng ngày càng phức tạp hơn, cố nhiên kiến thức về luật pháp để xét xử càng ngày càng đòi hỏi cao hơn. Các thẩm phán xét xử ngày càng đòi hỏi chuyên môn nghiệp vụ cao hơn. Với nhiệm kỳ dài sẽ có tác dụng tăng cường chuyên môn nghiệp vụ lẫn sự độc lập của các thẩm phán.
– Chế độ lương bổng cho thẩm phán phải được bảo đảmNgoài nhiệm kỳ có tính chất bền vững lâu dài của các thẩm phán, có lẽ không có một yếu tố nào lại có thể thuận tiện hơn để duy trì tính cách độc lập của họ bằng điều khoản quy định những phương tiện sinh sống của họ. Những bản tính của thẩm phán và chánh án của họ có thể cũng gần giống như của người trong bộ máy hành pháp; vì họ đều là những người cần phải thực thi pháp luật nên giống như hành pháp, thẩm phán cũng đòi hỏi phải có tính quyết đoán và cũng phải dám chịu trách nhiệm.
– Bảo đảm một số điều kiện làm việc khác cho thẩm phán. Cụ thể, cần rà soát những tiêu chuẩn hiện hành về bổ nhiệm, tái bổ nhiệm và miễn nhiệm thẩm phán để loại bỏ hoặc giảm bớt các tiêu chuẩn không liên quan đến năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, nhằm bảo đảm không có sự phân biệt đối xử về bất cứ yếu tố gì trong các quá trình này, từ đó chọn ra được những thẩm phán có năng lực và đạo đức tốt, cũng như khuyến khích những người có năng lực và đạo đức tốt cống hiến cho hệ thống tòa án. Thêm vào đó, cần rà soát và sửa đổi quy chế hoạt động của các tòa án nhằm giảm thiểu khả năng thẩm phán phải phụ thuộc vào lãnh đạo của các tòa án trong hoạt động nghề nghiệp, trong đó bao gồm việc loại bỏ các quy tắc “bất thành văn” như báo cáo án, thỉnh thị án, duyệt án… Ngoài ra, cần ban hành các quy định pháp luật cụ thể về việc giữ bí mật nghề nghiệp và quyền miễn trừ của thẩm phán nhằm bảo vệ họ khỏi những rủi ro nghề nghiệp, qua đó tránh cho họ không bị phụ thuộc vào các chủ thể khác. Ở mức độ rộng hơn, cần xây dựng một cơ chế để bảo đảm sự độc lập của thẩm phán trước sự tác động trong và ngoài tòa án. Cụ thể, hiện ở nước ta, tòa án vẫn được coi là một cơ quan hành chính, còn thẩm phán thì được coi là một dạng công chức trong hệ thống hành chính. Một khi còn nhận thức như vậy, sẽ rất khó bảo đảm tính độc lập của tòa án với các cơ quan nhà nước khác cũng như tính độc lập của thẩm phán với các chủ thể quản lý hành chính. Vì vậy, cần thay đổi nhận thức theo hướng thừa nhận vị trí đặc biệt của tòa án và của thẩm phán, đồng thời thay đổi quan niệm về mối quan hệ “trên – dưới” giữa lãnh đạo các tòa án và các thẩm phán, giữa tòa án cấp dưới và tòa án cấp trên…
Tóm lạiđể cải cách hoạt động của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam, trước hết phải hiểu được đúng nguyên nghĩa quyền tư pháp. Quyền tư pháp là một quyền độc lập chỉ được dùng để chỉ cho hoạt động xét xử của tòa án, không nên được dùng cho cả các cơ quan điều tra và nhất là cho cả cơ quan công tố buộc tội của Viện kiểm sát như hiện nay – những quyền này đều là một phần của quyền hành pháp. Quyền tư pháp phải được mở rộng đối tượng xét xử kể các các hành vi lập pháp và hành pháp. Trong tương lai không xa, các hoạt động của các cơ quan lập pháp và cả hành pháp cũng phải đặt trong vòng xét xử của toà án. Khác với thời kỳ chiến tranh, cũng như thời bao cấp, tư pháp chỉ được xem xét như là một trong các ban ngành như các bộ của hành pháp, vì nó chỉ được hiểu là một trong những lĩnh vực cần quản lý của Nhà nước như các lĩnh vực ban ngành khác mà thôi, mà phải là một ngành độc lập có khả năng xét xử cả các hành vi của lập pháp và hành pháp. Cuối cùng, cải cách tư pháp cần trao cho tòa án quyền giải thích Hiến pháp và pháp luật, đồng thời phải đặc biệt chú ý đến bảo đảm tính độc lập cho thẩm phán./. 
[1] Ở đây, cần thấy rằng cũng giống như mọi thể chế chính trị khác, dân chủ tư sản cũng tồn tại những khiếm khuyết nhất định. Nhưng như Churchill đã nhận định: “Mặc dù không phải là một chế độ hoàn hảo, nhưng dân chủ [tư sản] còn khá hơn bất kỳ một chế độ nào đã từng có trong lịch sử loài người”. Sau này, Thủ tướng Ấn độ Nehru cũng đồng tình: “Dân chủ là một chế độ tốt vì mọi chế độ khác đều tệ hơn rất nhiều”.
[2]Xem, Joef  Thesing: Nhà nước pháp quyền, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002, tr.126.
[3] Được thông qua tại Hội nghị Liên hợp quốc lần thứ 7 về phòng chống tội phạm và đối xử với người phạm tội, tổ chức tại Milan từ ngày 26/8 đến ngày 6/9/1985, sau đó được thông qua bằng Nghị quyết 40/32 ngày 29/11/1985 và Nghị quyết 40/146 ngày 13/12/1985 của Đại hội đồng Liên hợp quốc.
[4] Cần thấy rằng quy định này khác so với một số chức danh trong bộ máy nhà nước. Cụ thể, theo luật quốc tế, các nhà nước có thể hạn chế hoặc không thừa nhận quyền tự do lập hội, biểu tình, bãi công của một số chức danh đặc biệt như lực lượng cảnh sát, an ninh, phòng cháy chữa cháy, hay kể cả quân đội, nhằm bảo đảm sự ổn định và lợi ích chung của toàn xã hội.
[5] CCP khảo sát 550/800 bản Hiến pháp thành văn đã được ban hành trên thế giới từ năm 1789, trong đó hơn 90% được thông qua sau Chiến tranh Thế giới II. Số liệu khảo sát ở mục này cập nhật đến ngày 22/5/2008. Xem dữ liệu của CCP tại http://www.constitutionmaking.org/reports.html.
[8] Ở Việt Nam, hai bản Hiến pháp năm 1956 và 1967 của chính quyền miền Nam quy định theo mô thức này. Cụ thể, Điều 4 bản Hiến pháp năm 1956 quy định: “Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ tự do, dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập”.

Điều 70 và 71 bản Hiến pháp này nhắc lại nguyên tắc độc lập tư pháp dưới góc độ tính độc lập của thẩm phán: “Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án” (Điều 70); “Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi quốc gia” (Điều 71).

Theo Điều 3 bản Hiến pháp năm 1967: “Ba cơ quan Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản tự do, dân chủ và công bằng xã hội”. Thêm vào đó, Điều 76 bản Hiến pháp này còn quy định thêm: “(1) Quyền Tư pháp độc lập, được ủy nhiệm cho Tối Cao Pháp Viện và được hành xử bởi các Thẩm phán xử án”.

[9] Cụ thể, Điều 69 Hiến pháp 1946 quy định: “Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp”. Theo Điều 131 Hiến pháp 1960: “Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Theo Điều 131 Hiến pháp 1980: “Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Cũng theo Điều 130 Hiến pháp 1992:“Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.
[10] Trong các Hiến pháp của Việt Nam (kể cả hai Hiến pháp của chính quyền miền Nam giai đoạn 1954-1975), Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1956 không có quy định về nhiệm kỳ của thẩm phán. Các bản Hiến pháp còn lại có quy định về vấn đề này nhưng với những mức độ khác nhau. Cụ thể, Hiến pháp 1960 (Điều 129), nhiệm kỳ của Chánh án, Phó Chánh án và thẩm phán Toà án nhân dân các cấp theo nhiệm kỳ của cơ quan bầu ra mình, còn nhiệm kỳ của hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân tối cao là hai năm rưỡi, của Toà án nhân dân địa phương là hai năm. Hiến pháp 1980 (các Điều 129 và 130) cũng quy định tương tự. Theo Hiến pháp 1992 (Điều 128), nhiệm kỳ của Chánh án Toà án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội, còn nhiệm kỳ của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ở Toà án nhân dân các cấp do luật định. Hiến pháp 1967 chỉ quy định về nhiệm kỳ của thẩm phán Tối cao pháp viện (Điều 80 khoản 3) là sáu năm.
[13] Trong các Hiến pháp của Việt Nam (kể cả hai hiến pháp của chính quyền miền Nam giai đoạn 1954-1975), các Hiến pháp 1946,1960,1980,1992 và Hiến pháp 1956 ở miền Nam không có quy định về lương của thẩm phán hay ngân sách của tòa án. Chỉ riêng Hiến pháp 1967 ở miền Nam có một quy định về ngân sách của Tối cao Pháp viện  (Điều 83), trong đó nêu rằng: “Tối Cao Pháp Viện có ngân sách tự trị và có quyền lập qui để quản trị ngành tư pháp”.

[16] Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2009 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

[17] Xem Pháp lệnh Xử lý Vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2008 (hiện đang được nâng cấp thành luật). 

[18] Xem Luận về Hiến pháp Hoa kỳ (The federalist papers), Việt Nam Khảo dịch xã, Sài Gòn, 1959 tr 225.

GS, TS. Nguyễn Đăng Dung – Chủ nhiệm Bộ môn Luật Hiến pháp – Hành chính, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; TS. Vũ Công Giao – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nguồn: http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/tu-phap-111oc-lap-mot-so-van-111e-ly-luan-va-thuc-tien-ky-1

Discussion

Comments are closed.

%d bloggers like this: